30

6 tháng 6 âm

Ngày Canh Ngọ · Tháng Quý Mùi
Năm Ất Tỵ · Tiết Hạ chí

○ Ngày xấu

Nhìn nhanh

Hôm nay:Trực BếTú TâmLục diệu Không Vong

Nạp âm: Lộ Bàng Thổ.

Hướng xuất hành

Hỷ thần — cầu vui
Tây Bắc
Tài thần — cầu tài
Tây Nam
Hạc thần — hướng kiêng

Đây là một trong các giá trị mà cách tính hướng xuất hành hàng ngày có thể trả về, dùng để mô tả hướng hỷ thần, hướng tài thần, hoặc khoảng thời gian hạc thần không giữ hướng nào. Giá trị này ứng với hướng Chính Nam, một trong tám hướng chính được dùng trong cách xem hướng xuất hành. Theo quan niệm dân gian, hướng chính nam gắn với sự ấm áp và thịnh vượng, thường được liên hệ với sự phát triển. Hướng hỷ thần và hướng tài thần của một ngày được xác định từ can của ngày hôm đó, còn hạc thần xoay lần lượt qua các hướng theo chu kỳ sáu mươi ngày; người xưa cho rằng xuất hành theo hướng hỷ thần hay tài thần là điều nên làm, còn hướng hạc thần trong ngày thường được tránh.

Giờ hoàng đạo

● Tý
23–01
● Sửu
01–03
Dần
03–05
● Mão
05–07
Thìn
07–09
Tỵ
09–11
● Ngọ
11–13
Mùi
13–15
● Thân
15–17
● Dậu
bây giờ
Tuất
19–21
Hợi
21–23

● giờ hoàng đạo: Tý, Sửu, Mão, Ngọ, Thân, Dậu

Tra cứu sâu

chạm để mở từng mục
Trực Bế

Đây là vị trí thứ mười hai trong chu kỳ mười hai trực, hệ thống dân gian gọi là kiến trừ, được xác định từ chi của ngày đối chiếu với chi của tháng âm lịch. Trực này mang tên Bế, vốn có nghĩa là đóng lại, khép kín. Theo quan niệm dân gian, đây là vị trí cuối cùng khép lại chu kỳ, gắn với ý niệm hoàn tất và kết thúc. Người xưa cho rằng ngày mang trực này thuận cho việc an táng hay đóng lại một công việc đã xong, nhưng ít được chọn để khai trương việc mới.

Thập nhị kiến trừ: Kiến · Trừ · Mãn · Bình · Định · Chấp · Phá · Nguy · Thành · Thu · Khai · Bế — mỗi ngày một trực, lặp theo chi.

Nhị thập bát tú — sao Tâm

Đây là vì sao thứ năm trong hai mươi tám vì sao của hệ chòm sao cổ truyền dùng để tính ngày âm lịch, thuộc cung đông mang hình tượng rồng xanh. Tên Hán Việt của sao này là Tâm, vốn có nghĩa là trái tim của con rồng xanh, được xem là vị trí trung tâm và quan trọng bậc nhất trong nhóm bảy sao này. Vì mang ý nghĩa trung tâm, sao này trong quan niệm dân gian thường được dành riêng cho những việc hệ trọng, ít dùng cho việc nhỏ nhặt thường ngày. Theo quan niệm dân gian, ngày mang sao này thích hợp cho lễ nghi lớn, nhưng cũng nên cân nhắc kỹ trước khi dùng cho việc thường nhật.

Sao tốt · sao xấu

Không có sao nổi bật vào ngày này.

Khổng Minh lục diệu — Không Vong

Đây là vị trí thứ sáu trong chu kỳ sáu ngày gọi là lục diệu, chu kỳ này quay vòng lại từ mùng một mỗi tháng âm lịch, kể cả tháng nhuận. Diệu này mang tên Không Vong, vốn có nghĩa là trống rỗng, chưa định hình. Theo quan niệm dân gian, đây là vị trí cuối cùng khép lại chu kỳ, gắn với ý niệm việc khởi sự dễ dở dang, chưa nên chốt việc lớn. Người xưa cho rằng ngày mang diệu này thích hợp cho việc tĩnh tâm, xem xét lại, hơn là quyết định những việc cần sự chắc chắn.

Nạp âm — Lộ Bàng Thổ

Đây là tên gọi thứ tư trong ba mươi tên gọi của nạp âm ngũ hành, hệ thống ghép mỗi cặp năm liên tiếp trong chu kỳ sáu mươi hoa giáp với một hình ảnh và một hành trong ngũ hành. Tên Hán Việt của cách gọi này là Lộ Bàng Thổ, thuộc hành Thổ trong ngũ hành và mang nghĩa là đất nằm ven đường. Hình ảnh đất ven đường trong quan niệm dân gian gợi sự bình dị, gần gũi với đời sống thường nhật. Trong ngũ hành, hành Thổ tượng trưng cho sự vững chãi và nuôi dưỡng, và nạp âm này ứng với một cặp năm liên tiếp trong chu kỳ sáu mươi hoa giáp.

Bành Tổ bách kỵ

Ngày Canh: Đây là một trong mười điều kiêng kỵ theo hệ Bành Tổ bách kỵ, mỗi điều gắn với một can trong hệ thập can của ngày âm lịch. Can này là Canh, đứng thứ bảy trong hệ thập can. Theo Bành Tổ bách kỵ, người xưa cho rằng ngày mang can này không thích hợp để dệt vải hay xe chỉ, theo lối kiêng cữ của nghề canh cửi. Đây là một trong nhiều điều kiêng kỵ truyền miệng lâu đời, mang tính tham khảo hơn là quy tắc bắt buộc.

Ngày Ngọ: Đây là một trong mười hai điều kiêng kỵ theo hệ Bành Tổ bách kỵ, mỗi điều gắn với một chi trong hệ thập nhị chi của ngày âm lịch. Chi này là Ngọ, đứng thứ bảy trong hệ thập nhị chi. Theo Bành Tổ bách kỵ, người xưa cho rằng ngày mang chi này không thích hợp để sửa mái nhà hay lợp lại phần nóc, vì việc động đến phần trên căn nhà trong ngày này được cho là dễ trắc trở. Đây là một trong nhiều điều kiêng kỵ truyền miệng lâu đời, mang tính tham khảo hơn là quy tắc bắt buộc.